Tiếp tục phát huy truyền thống “đội quân lao động sản xuất”, đẩy mạnh tăng gia, sản xuất, xây dựng kinh tế trong thời kỳ mới

Tiếp tục phát huy truyền thống “đội quân lao động sản xuất”, đẩy mạnh tăng gia, sản xuất, xây dựng kinh tế trong thời kỳ mới

17:21 | 22/08/2016

(Bqp.vn) - 71 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng với thực hiện tốt chức năng của một “đội quân chiến đấu, đội quân công tác”, Quân đội ta còn tích cực, chủ động thực hiện chức năng là “đội quân lao động sản xuất” và đã thu được những kết quả quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Bộ đội tham gia xây dựng tuyến đường sắt Thống Nhất Bắc - Nam. (ảnh tư liệu)

Nhìn lại chặng đường 71 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của QĐND Việt Nam, chúng ta tự hào rằng: trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, Quân đội ta cũng luôn tích cực, chủ động tham gia lao động, sản xuất bằng những hình thức, biện pháp sáng tạo, phù hợp. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, các đơn vị quân đội vừa xây dựng, chiến đấu, công tác; vừa tích cực tăng gia, sản xuất tại chỗ để cải thiện đời sống của bộ đội. Các cơ sở quân giới từ nơi rừng sâu, căn cứ địa đã nêu cao tinh thần tự, lực tự cường, tích cực nghiên cứu, cải tiến, chế tạo, sản xuất hàng chục triệu tấn vũ khí, đạn dược, đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang, phát triển chiến tranh nhân dân và tác chiến ngày càng hiện đại trên các chiến trường.

Kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, thực hiện chủ trương của Đảng về xây dựng miền Bắc XHCN, gần 8 vạn cán bộ, chiến sĩ đã chuyển sang làm nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế (SX-XDKT), trực tiếp tham gia xây dựng các cơ sở kinh tế quan trọng của đất nước lúc bấy giờ, như: Khu công nghiệp Việt Trì; Nhà máy gang thép Thái Nguyên; công trình Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải; 29 nông trường trên khắp miền Bắc... Trong giai đoạn này, để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, ngày 23/8/1956, Bộ Quốc phòng đã ban hành Nghị định số 30/NĐ thành lập Cục Nông binh (tiền thân của Cục Kinh tế, Bộ Quốc phòng ngày nay), chính thức hình thành một cơ quan chuyên trách làm tham mưu, giúp Bộ Quốc phòng quản lý, chỉ đạo, điều hành thực hiện nhiệm vụ SX-XDKT của toàn quân [1].

Trước yêu cầu, nhiệm vụ của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Bộ Quốc phòng đã bàn giao 29 nông trường và gần 4 vạn cán bộ, chiến sĩ, công nhân cho Bộ Nông nghiệp quản lý; đồng thời, chuyển hướng nhiệm vụ SX-XDKT vào trọng tâm xây dựng hậu phương tại chỗ trên chiến trường miền Nam. Theo đó, các đơn vị đã tích cực tham gia xây dựng căn cứ hậu phương, căn cứ hậu cần tại chỗ trên các vùng chiến lược ở Khu 5, Tây Nguyên, Đông Nam bộ, Tây Nam bộ... Bộ Quốc phòng cũng thành lập 20 trung đoàn tổ chức sản xuất, cung cấp hậu cần cho các chiến trường. Đặc biệt, Bộ đội Trường Sơn đã cùng các lực lượng khác bạt đèo, xẻ núi, xây dựng hàng vạn km đường bộ, đường sông, đường ống, mở tuyến chi viện chiến lược trên bộ, đáp ứng nhu cầu cung cấp sức người, sức của cho chiến trường miền Nam và nước bạn Lào, Cam-pu-chia, góp phần quan trọng vào thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc.

Sau khi đất nước thống nhất, Quân đội lại là lực lượng xung kích trong hàn gắn vết thương chiến tranh, tham gia phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Sau năm 1975, gần 28 vạn cán bộ, chiến sĩ chuyển sang thực hiện nhiệm vụ SX-XDKT và đã hoàn thành nhiều chương trình, dự án trọng điểm kết hợp kinh tế với quốc phòng trên địa bàn cả nước. Đặc biệt, trong thời kỳ Đổi mới, nhất là từ khi có Nghị quyết 71/ĐUQSTW, ngày 25/4/2002 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương), nhiệm vụ SX-XDKT của Quân đội có bước phát triển toàn diện, đạt hiệu quả thiết thực. Nổi bật là, Quân đội đã phát huy vai trò xung kích, nòng cốt trong tham gia xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội gắn với xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, đảo, với trọng tâm là triển khai xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng (KT-QP). Đến nay, Quân đội đã xây dựng được 23 khu KT-QP với diện tích hàng triệu ha, tạo điều kiện phát triển bền vững cho hàng nghìn hộ dân định cư sinh sống lâu dài, hình thành thế bố trí chiến lược mới trên các địa bàn chiến lược, trọng yếu về quốc phòng, an ninh. Các khu KT-QP đã và đang phát huy hiệu quả to lớn về nhiều mặt, thực sự là nhân tố quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng - an ninh của đất nước.

Cùng với đó, các doanh nghiệp quân đội - lực lượng chủ yếu trong thực hiện nhiệm vụ SX-XDKT không ngừng đổi mới, phát triển, hội nhập, nâng cao hiệu quả kết hợp giữa sản xuất, kinh doanh với thực hiện nhiệm vụ quốc phòng. Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt của nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp quân đội vẫn giữ vững bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, chủ động vượt khó khăn, sản xuất, kinh doanh có hiệu quả, bảo đảm việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động. Đến nay đã có nhiều doanh nghiệp quân đội năng động, sáng tạo, chiếm lĩnh thị trường trong nước và đầu tư ra nước ngoài, trở thành đối tác kinh tế quốc tế có uy tín. Đặc biệt, có những doanh nghiệp có thương hiệu, giữ vị trí xứng đáng trong nền kinh tế quốc dân và là lực lượng dự bị mạnh cho quốc phòng, hoạt động trên một số lĩnh vực: viễn thông, dịch vụ cảng biển, đóng tàu, bay dịch vụ, xây dựng, khai khoáng, ngân hàng... Các đơn vị thường trực SSCĐ, đơn vị sự nghiệp công lập bên cạnh hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị đã tích cực phát huy nội lực, đẩy mạnh tăng gia, sản xuất… góp phần trực tiếp nâng cao đời sống của bộ đội; đồng thời, tham gia có hiệu quả vào việc phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn đóng quân...

Có thể khẳng định, 71 năm qua kể từ ngày thành lập, Quân đội ta đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong thực hiện nhiệm vụ tham gia SX-XDKT, góp phần tô thắm thêm bản chất, truyền thống tốt đẹp của QĐND Việt Nam Anh hùng - một quân đội “từ nhân dân mà ra”, “vì nhân dân phục vụ”. Kết quả đó đã cho thấy ý thức, trách nhiệm chính trị cao của toàn quân trong việc quán triệt và thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược; đồng thời, cho thấy vai trò to lớn của Quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong những năm tới, nước ta tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, với nhiều thuận lợi và cơ hội to lớn, song cũng đứng trước không ít khó khăn, thách thức trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã xác định; trong đó, trọng tâm là hoàn thành thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN. Trước tình hình đó, cùng với việc tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, Quân đội cần tiếp tục đẩy mạnh và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ SX-XDKT, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng, phát triển đất nước, trong đó cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung, giải pháp chủ yếu sau:

1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp đối với nhiệm vụ SX-XDKT. Đây là vấn đề nguyên tắc và là nhân tố quyết định thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, đảm bảo cho mọi hoạt động tham gia SX-XDKT của Quân đội tiến hành đúng hướng, đạt hiệu quả cao.

Theo đó, toàn quân cần tiếp tục quán triệt và đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 520-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về Lãnh đạo nhiệm vụ SX-XDKT kết hợp với quốc phòng của Quân đội đến năm 2020; đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ hơn nữa ý nghĩa, tầm quan trọng và yêu cầu của nhiệm vụ SX-XDKT kết hợp với quốc phòng trong giai đoạn hiện nay, cũng như vai trò của Quân đội trong việc tham gia phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường quốc phòng - an ninh, nhất là trên các địa bàn chiến lược.

Về nhận thức, toàn quân phải xác định rõ đây là một nhiệm vụ chính trị quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, vừa mang tính cấp thiết, vừa lâu dài, thể hiện bản chất, truyền thống của Quân đội ta. Từ đó, đề cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, đưa hoạt động SX-XDKT của Quân đội đi vào chiều sâu. Trước mắt, các đơn vị, doanh nghiệp quân đội cần rà soát, bổ sung chỉ tiêu, biện pháp trong chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết 520-NQ/QUTW sát với tình hình thực tiễn, gắn với thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Trong quá trình thực hiện, cần tiếp tục quán triệt và vận dụng sáng tạo quan điểm của Đảng về kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, “kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội” [2]; chấp hành nghiêm các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, quy định của Bộ Quốc phòng; lấy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh là mục tiêu hàng đầu; coi trọng bảo vệ tài nguyên, môi trường, thực hiện phát triển bền vững và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng, trước hết là Cục Kinh tế, thường xuyên bám sát chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, thực hiện tốt chức năng tham mưu, đề xuất với Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, quy chế, chính sách liên quan đến hoạt động SX-XDKT của Quân đội, đảm bảo phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường quốc phòng - an ninh trong giai đoạn mới.

2. Tập trung nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ xây dựng và “nâng cao hiệu quả hoạt động của các KT-QP” [3]. Các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng, các quân khu và Quân chủng Hải quân cần tích cực và chủ động tham mưu cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về huy động, tập trung các nguồn lực bảo đảm cho xây dựng các khu KT-QP; đồng thời, chỉ đạo các đoàn KT-QP đẩy mạnh thực hiện Quy hoạch tổng thể xây dựng và phát triển các khu KT-QP đến năm 2020, định hướng đến năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đảm bảo đúng lộ trình; coi trọng xây dựng các khu KT-QP trên hướng biển, đảo xa bờ; xây dựng một số mô hình điểm tại các khu KT-QP để rút kinh nghiệm, có giải pháp sát hợp trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành.

Các đoàn KT-QP phải luôn bám sát mục tiêu xây dựng khu KT-QP để đảm bảo hoạt động đúng hướng, hiệu quả; trong đó, cần chủ động phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền địa phương và các lực lượng có liên quan, tạo sự đồng thuận cao trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, làm tốt công tác quy hoạch xây dựng dự án; huy động, quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, đầu tư theo thứ tự ưu tiên, thực hiện đồng bộ việc xây dựng cơ sở hạ tầng kết hợp với bố trí lại dân cư, hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống, tăng cường quốc phòng - an ninh trong vùng dự án; tiếp tục tham gia toàn diện vào các chương trình mục tiêu quốc gia, xây dựng nông thôn mới; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng cán bộ kỹ thuật, cán bộ là người dân tộc ở địa phương...

3. Tích cực tham gia phát triển kinh tế biển, gắn với nâng cao khả năng quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Hoạt động KT-QP trên biển của Quân đội là một bộ phận không thể tách rời của Chiến lược Biển Việt Nam. Những năm qua, Quân đội ta đã có nhiều cố gắng tham gia phát triển kinh tế biển, nhưng kết quả chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu. Thời gian tới, chúng ta cần đẩy mạnh tham gia phát triển kinh tế biển cả về quy mô và hình thức, nhằm góp phần thực hiện mục tiêu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, đảo. Theo đó, các lực lượng quân đội theo nhiệm vụ được phân công, cần chủ động xây dựng kế hoạch tham gia xây dựng, phát triển kinh tế biển, tập trung chủ yếu vào một số ngành nghề có hiệu quả, mang tính lưỡng dụng, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh trên biển và ven biển. Trước mắt, các doanh nghiệp thuộc Quân chủng Hải quân cần phát huy vai trò nòng cốt, triển khai thực hiện tốt các dự án khai thác, nuôi trồng thủy sản ở các vùng biển, đảo xa bờ, tổ chức dịch vụ hậu cần nghề cá, cứu hộ, cứu nạn trên biển…; đồng thời, tạo cơ sở xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển, đảo ngày càng vững mạnh.

4. Đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp và phát triển các doanh nghiệp quân đội gắn với giữ gìn, nâng cao năng lực sản xuất quốc phòng. Thời gian qua, thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, sự chỉ đạo của Chính phủ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt việc đổi mới, sắp xếp và phát triển các doanh nghiệp quân đội và đạt được kết quả bước đầu quan trọng. Trong thời gian tới, các doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị có liên quan cần tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ X, Chỉ thị 430-CT/QUTW ngày 12/6/2015 của Quân ủy Trung ương về nhiệm vụ quan trọng này. Trong đó, thực hiện tốt Đề án tái cơ cấu các doanh nghiệp quân đội giai đoạn 2016 - 2020 (đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt) theo hướng tập trung xây dựng, phát triển các doanh nghiệp phục vụ cho Chương trình Công nghiệp quốc phòng theo tinh thần Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) và một số lĩnh vực, ngành nghề mà Quân đội có thế mạnh; đồng thời, nghiên cứu, bổ sung vốn điều lệ cho các doanh nghiệp, đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn, sáp nhập, giải thể các doanh nghiệp xây dựng nhằm thu gọn đầu mối.

Dây chuyền tráng nhựa hiện đại ở Công ty Hóa chất 76. (ảnh: Quang Trung)

Quá trình thực hiện, cần triển khai đồng bộ, vững chắc, đúng định hướng, tránh chạy theo quy mô, hình thức; đảm bảo sau khi sắp xếp lại, các doanh nghiệp quân đội tổ chức sản xuất, kinh doanh có hiệu quả hơn, năng lực cạnh tranh cao hơn, có điều kiện phát huy đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo luật định. Đặc biệt, việc thực hiện cổ phần hóa phải được lãnh đạo, chỉ đạo, giám sát chặt chẽ, thực hiện theo đúng các quy định của Nhà nước và Bộ Quốc phòng, không để nảy sinh tiêu cực, lãng phí, làm thất thoát tài sản Nhà nước, cũng như quyền lợi chính đáng của người lao động. Cần chú ý, chỉ tiến hành cổ phần hóa những doanh nghiệp kinh tế, thương mại, không cổ phần hóa những doanh nghiệp và đơn vị KT-QP; việc cổ phần hóa phải gắn với tái cấu trúc, sắp xếp lại lao động, ngành nghề sản xuất, kinh doanh, tạo điều kiện để doanh nghiệp ổn định, phát triển bền vững.

Cùng với đó, các doanh nghiệp quân đội cần chủ động rà soát, xây dựng chiến lược phát triển, chiến lược sản xuất, kinh doanh phù hợp với mô hình hoạt động, quyết tâm giữ vững thương hiệu; coi trọng gắn hiệu quả sản xuất, kinh doanh với nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; tăng cường hoạt động kinh tế đối ngoại và tích cực tham gia vào hoạt động đối ngoại quốc phòng. Đồng thời, cần đặc biệt quan tâm kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, đảm bảo giữ vững sự lãnh đạo của Đảng trong doanh nghiệp.

5. Chú trọng tổ chức và quản lý chặt chẽ hoạt động sản xuất, làm kinh tế của các đơn vị. Cùng với đặt trọng tâm vào hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, các đơn vị thường trực và đơn vị sự nghiệp công lập cần phát huy thế mạnh tại chỗ và tận dụng năng lực dôi dư để tổ chức sản xuất, làm kinh tế phù hợp với điều kiện cụ thể, nhằm cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ và người lao động; tăng cường nguồn lực quốc phòng; góp phần thực hiện chính sách xã hội, nhất là chính sách hậu phương quân đội. Trong đó, chú trọng đẩy mạnh sản xuất theo hướng tập trung, bền vững; tích cực áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, dịch vụ; tổ chức sản xuất gắn với phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, nhất là trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo... Trong quá trình thực hiện, các đơn vị phải đảm bảo đúng pháp luật Nhà nước và quy định của Bộ Quốc phòng. Các cơ quan chức năng của Bộ phải nắm chắc tình hình, chủ động tham mưu cho Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý chặt chẽ các hoạt động SX-XDKT; kiên quyết xử lý nghiêm các sai phạm gây thất thoát và các biểu hiện tham nhũng, tiêu cực… làm ảnh hưởng đến truyền thống, phẩm chất tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”.

6. Tăng cường hoạt động kinh tế đối ngoại, xúc tiến thương mại và đầu tư, đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, tập trung vào những lĩnh vực mà doanh nghiệp quân đội có thế mạnh. Toàn quân, trước hết là các doanh nghiệp quân đội cần quán triệt sâu sắc hơn nữa Nghị quyết 22-NQ/TW, ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Hội nhập quốc tế”; Nghị quyết 806-NQ/QUTW, ngày 31/12/2013 của Quân ủy Trung ương về “Hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”. Trên cơ sở đó, đẩy mạnh thực hiện bằng những nội dung, biện pháp phù hợp. Các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng cần rà soát, nghiên cứu, hoàn thiện các cơ chế, chính sách chỉ đạo, định hướng hoạt động kinh tế đối ngoại của các doanh nghiệp quân đội; đồng thời, chủ động mở rộng quan hệ thương mại quân sự, xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch kết hợp hoạt động đối ngoại quốc phòng với hoạt động kinh tế đối ngoại theo định hướng của Đảng, Nhà nước. Các doanh nghiệp quân đội cần lựa chọn đối tác phù hợp, tích cực hợp tác, mở rộng liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước; coi trọng các hoạt động giới thiệu, quảng bá thương hiệu, phát triển thị trường… nhằm nâng cao hiệu quả SX-XDKT, đáp ứng tốt hơn cho nhiệm vụ quốc phòng - an ninh. Trong quá trình thực hiện, phải tuân thủ đúng pháp luật của Nhà nước, quy định của Bộ Quốc phòng, giữ vững nguyên tắc bảo đảm an ninh chính trị nội bộ, an ninh quốc gia, bảo vệ lợi ích cao nhất của đất nước.

Trên cơ sở quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ X, toàn quân mà trước hết là cấp ủy, chỉ huy các cấp cần nắm vững quan điểm, phương hướng, mục tiêu đã xác định, chức năng của “đội quân lao động sản xuất”; đồng thời, phát huy những kinh nghiệm, kết quả đạt được, tiếp tục phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ SX-XDKT, kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

[1] - Ngày 23/8 được lấy làm Ngày truyền thống Bộ đội sản xuất, xây dựng kinh tế.

[2] - ĐCSVN- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H. 2016, tr.312.

[3] - Sđd, tr.312.

Trung tướng Trần Đơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng

File đính kèm :

Các tin khác